– Tạp chí số 3: Chuyên đề Tràn khí màng phổi và cập nhật COPD

SINH BỆNH HỌC TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI  PGS, TS Nguyễn Huy Lực Tóm tắt:  Tràn khí màng phổi (TKMP) được định nghĩa là sự có khí một cách bất thường trong khoang màng phổi, giữa màng phổi thành và màng phổi tạng, làm cho phổi xẹp lại một phần hay toàn bộ. Bình thường khoang màng […]

SINH BỆNH HỌC TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI 
PGS, TS Nguyễn Huy Lực
Tóm tắt: 
Tràn khí màng phổi (TKMP) được định nghĩa là sự có khí một cách bất thường trong khoang màng phổi, giữa màng phổi thành và màng phổi tạng, làm cho phổi xẹp lại một phần hay toàn bộ. Bình thường khoang màng phổi không có khí. Khí xuất hiện trong khoang màng phổi bằng 1 trong 3 con đường sau:
– Không khí đi vào qua đường thở, phế nang vào màng phổi do rách màng phổi tạng.
– Qua thành ngực, cơ hoành, trung thất hoặc thực quản (trong vết thương thấu ngực) .
– Do các vi sinh vật trong khoang màng phổi sinh khí .
Tràn khí màng phổi không phải là một bệnh mà là một tình trạng rối loạn (disorder) biểu hiện bằng một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây nên. Tràn khí màng phổi được phân loại gồm TKMP tự phát (nguyên nhân không phải do chấn thương), TKMP do chấn thương, TKMP do thầy thuốc (hậu quả do biến chứng của các thủ thuật can thiệp trong chẩn đoán và điều trị).
Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ đề cập tới tràn khí màng phổi tự phát (không do chấn thương). 
Có hai loại tràn khí màng phổi tự phát: 
– Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát 
– Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát.
Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát xảy ra ở người khỏe mạnh không có bệnh phổi, TKMP tự phát thứ phát là biến chứng của một bệnh phổi trước đó. Thuật ngữ TKMP đã được dùng đầu tiên bởi Itard, một học trò của Laennec vào năm 1803, và sau đó Laennec đã mô tả những triệu chứng của TKMP vào năm 1819. Laennec đã mô tả hầu hết TKMP xảy ra ở bệnh nhân lao phổi, mặc dầu ông cũng thừa nhận TKMP cũng xảy ra ở bệnh phổi khác. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các tác giả Pháp (như Trousseau, Béhier, Devilliers, Galliard, Potain …) đã nghiên cứu tỉ mỉ về triệu chứng lâm sàng của TKMP. Năm 1888 Galliard mô tả TKMP ở những người tòng quân và TKMP khi gắng sức, chính ông là người đã mô tả tam chứng của TKMP mà ngày nay người ta gọi là tam chứng Galliard. Đến nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về TKMP, tuy nhiên nó vẫn là vấn đề đáng quan tâm của toàn cầu.

HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH XỬ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI 
ThS, BS Lê Hoàn
Tóm tắt: 
Tràn khí màng phổi (TKMP) là tình trạng bệnh lý xuất hiện khí trong khoang màng phổi. 
+ Triệu chứng cơ năng: Đau ngực, khó thở, ho khan.
+ Triệu chứng thực thể: Lồng ngực bên tràn khí căng phồng, Tam chứng (tràn khí) Galliard.
+ Xquang ngực: Hình ảnh khoảng tăng sáng giữa nhu mô phổi và thành ngực, nhìn thấy lá tạng màng phổi, nhu mô phổi có thể co về phía rốn phổi, trong trường hợp tràn khí nhiều có thể thấy nhu mô phổi co nhỏ về phía rốn phổi như nắm đấm. Các khoang liên sườn giãn rộng, xương sườn nằm ngang, vòm hoành hạ thấp và trung thất bị đẩy sang bên đối diện.
+ Phân loại tràn khí màng phổi: TKMP tự phát nguyên phát, TKMP tự phát thứ phát, Tràn khí màng phổi do các thủ thuật chẩn đoán và điều trị.
+ Xử trí: Nguyên tắc là xử trí tại chỗ nếu tràn khí là nguyên nhân gây suy hô hấp. Thực hiện các phương pháp dẫn lưu khí từ đơn giản tới phức tạp tùy theo điều kiện của từ cơ sở y tế. 

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CỦA BTS VỀ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT 
ThS, BS Huỳnh Anh Tuấn – dịch
Giới thiệu: 
Tràn khí màng phổi (TKMP) được định nghĩa là khi có khí trong khoang màng phổi – đây là khoang nằm giữa phổi và thành ngực (1). TKMP nguyên phát xảy ra ở những người khỏe mạnh mà không bị bất kỳ bệnh phổi gì. TKMP thứ phát xảy ra ở những người có sẵn bệnh lý phổi trước đó. Thuật ngữ TKMP đã được đề cập đầu tiên vào năm 1802 bởi Itard, một học trò của Laennec (2), và chính Laennec đã mô tả bệnh cảnh lâm sàng của TKMP năm 1819 (2). Ông đã mô tả hầu hết TKMP xảy ra ở những bệnh nhân lao phổi, mặc dù ông cũng nhận thấy TKMP cũng xảy ra với những bệnh nhân có phổi khỏe mạnh – được ông mô tả là “TKMP đơn thuần”. Tuy vậy, việc mô tả hiện đại trường hợp TKMP tự phát nguyên phát là do Kjaergard thực hiện năm 1932 (3). TKMP nguyên phát vẫn còn vấn đề toàn cầu đáng lưu ý, xảy ra ở những người khỏe mạnh với xuất độ được ghi nhận là 18–28/100 000 người trong năm với nam giới và 1.2–6/ 100 000 người-năm với nữ giới (4,5). TKMP thứ phát liên quan đến bệnh phổi có sẵn từ trước trong khi TKMP nguyên phát thì không. Theo định nghĩa, không có yếu tố thúc đẩy rõ ràng trong cả hai trường hợp TKMP đã đề cập. Tỉ lệ nhập viện cho cả TKMP nguyên phát và thứ phát được ghi nhận tại Anh Quốc là 5,8/100 000 người-năm ở nữ giới và 16,7/100 000 người-năm với nam giới. Tỉ lệ tử vong ở Anh là 0,62/triệu người-năm ở nữ giới và 1,26/triệu người mỗi năm cho nam giới trong khoảng 1991 và 1995 (6). Tài liệu hướng dẫn này mô tả việc xử trí TKMP nguyên phát và thứ phát. Nó không xét đến việc TKMP do chấn thương. Sơ đồ hướng dẫn xử trí TKMP nguyên phát và thứ phát được thể hiện ở hình 1 và 2 (bên dưới).

PHÂN LOẠI MỚI COPD 
TS, BS Đỗ Thị Tường Oanh
Tóm tắt: 
Phân loại COPD mang tính phân độ theo mức độ nặng của giảm FEV1. Phân độ như vậy do trước đây căn cứ chủ yếu trên chỉ số FEV1 với quan niệm cho rằng rối loạn tắc nghẽn lưu lượng khí là rối loạn cơ bản của bệnh nhân COPD. Những hiểu biết gần đây về bệnh sinh COPD cho thấy COPD là một bệnh lý toàn thể và đa kiểu hình và cần có một cách đánh giá phù hợp hơn. GOLD 2011 đưa ra hệ thống phân loại mới, không hoàn toàn mang tính phân độ theo mức độ nặng, với bảng đánh giá COPD tích hợp bao gồm các yếu tố mức độ triệu chứng hiện tại, mức độ tắc nghẽn phế quản và tiền sử đợt cấp kết hợp với việc nhận định sự hiện diện của các bệnh đồng mắc. Hệ thống phân độ mới bắt đầu được áp dụng rộng rãi và cần có những nhận định, phản hồi và khảo sát đầy đủ hơn trong tương lai. 

HỘI CHỨNG CHỒNG LẤP HEN VÀ COPD 
ThS, BS Cao Thị Mỹ Thúy
Tóm tắt: 
Hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là các bệnh đường thở tắc nghẽn thường gặp. Hen và COPD có thể chồng lấp, đặc biệt ở người già, gọi là hội chứng chồng lấp hen – COPD (ACOS). Tần suất ACOS tăng theo tuổi, trên 50% ở người 80 tuổi trở lên. ACOS có thể chia sẻ các yếu tố nguy cơ của cả hen và COPD, cũng như có các đặc trưng sinh bệnh học chồng lấp của cả hai bệnh. Dựa trên các tài liệu đã công bố và sự đồng thuận, Ủy ban Khoa học GINA và GOLD đã đưa ra tiếp cận chẩn đoán và điều trị ACOS. Tiếp cận này có thể giúp thầy thuốc thực hành lâm sàng dễ dàng chẩn đoán phân biệt hen, COPD, ACOS và quyết định điều trị ban đầu.

KẾT HỢP THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ COPD 
TS, BS Nguyễn Văn Thành
Tóm tắt: 
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh lý đa thành phần trong sinh bệnh học (multi-component disease) với đặc trưng là hạn chế lưu thông khí và viêm mạn tính đường thở. Các đợt cấp COPD được xem là yếu tố tác động đến tốc độ phát triển bệnh, làm giảm chất lượng cuộc sống và tăng chi phí điều trị. Tác động của điều trị không chỉ là để cải thiện triệu chứng mà còn hướng tới làm biến đổi phản ứng viêm để từ đó làm chậm tiến trình bệnh và làm giảm đợt cấp. Theo hướng tác động vào tính chất đa thành phần của sinh bệnh học COPD, nhiều nghiên cứu đã chứng minh được hiệu quả của các trị liệu thuốc kết hợp thuốc. Bài tổng quan này sẽ trình bày quan điểm nền tảng và kết quả các nghiên cứu phối hợp thuốc trong điều trị COPD, cũng như các khuyến cáo kết hợp thuốc hiện nay.

Chi tiết mời đọc giả xem tại đây.

Tai-tai-lieu

Tin liên quan ...